Sunday, May 12, 2019

Phát biểu của Obama tại Hà Nội - Việt Nam (24/05/2016)












TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG THỐNG OBAMA TẠI HÀ NỘI TRƯA 24-5

Xin chào! (Vỗ tay.) 

Xin chào Việt Nam! (Vỗ tay.)

Xin cám ơn!

Xin cám ơn rất nhiều!

Tôi xin cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã đón tiếp tôi thật nồng nhiệt, tôi xin cảm ơn lòng mến khách chân thành dành cho tôi trong chuyến thăm này. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các bạn có mặt ở đây hôm nay.

Chúng ta thấy về đây hôm nay là người Việt từ khắp mọi miền của đất nước vĩ đại này, ở đây có rất nhiều các gương mặt trẻ cho chúng ta thấy tài năng, sự năng động và niềm hi vọng của Việt Nam.

Trong chuyến thăm này, sự tử tế của mọi người làm cho trái tim tôi bồi hồi xúc động, sự tử tế ấy chính là điều để người ta biết đó là người Việt. Rất nhiều người đứng dọc hai bên đường với nụ cười, với những cái vẫy tay chào đón, tôi cảm thấy được ở họ là tình cảm bè bạn giữa nhân dân của chúng ta.

Tối qua, tôi ra chỗ phố cổ Hà Nội rồi thưởng thức vài món Việt, toàn là thứ ngon trên đời. Tôi thử ăn Bún Chả này (Vỗ tay) rồi tôi cũng làm vài chai bia Hà Nội nữa. Nhưng cũng phải thú thật, phố phường đông đúc nhường ấy ở thành phố này, cả đời tôi chưa bao giờ nhìn thấy từng ấy cái xe máy. (Tiếng cười vang). Bởi thế mà cho đến tận giờ tôi vẫn chưa thử đi qua đường, thôi để có khi tôi quay lại nơi này thăm các bạn thì các bạn cho tôi biết cách làm thế nào qua đường vậy.

LỊCH SỬ ĐÃ KHẲNG ĐỊNH “KHÔNG NƯỚC NÀO CÓ THỂ ÁP ĐẶT, QUYẾT ĐỊNH SỐ PHẬN THAY VIỆT NAM”

Tôi không phải Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam trong những năm gần đây. Nhưng tôi là Tổng thống đầu tiên là người giống như nhiều bạn đang ở đây, là người đã trưởng thành vào thời kỳ sau cuộc chiến giữa hai nước chúng ta. Khi lực lượng quân sự Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam thì tôi mới 13 tuổi. Cho nên những cảm nhận và ý thức đầu tiên đã đến với tôi về Việt Nam và về người Việt là khi tôi đang lớn lên ở Hawaii vì ở đó có cộng đồng người Mỹ gốc Việt đầy tự hào.

Đồng thời tôi muốn nói, số rất đông người dân ở nước này còn trẻ hơn tôi nhiều. Rất nhiều người trong số các bạn ở đây, cũng giống như hai con tôi, từ khi sinh ra tới nay chỉ biết mỗi một điều – điều đó là hòa bình và mối quan hệ đã được bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Bởi thế nên tôi đến đây, với ý thức về quá khứ, với ý thức về lịch sử khó khăn của chúng ta, nhưng hoàn toàn chú trọng tới tương lai – sự thịnh vượng, nền an ninh và nhân phẩm của con người – tất cả những điều để chúng ta cùng nhau thúc đẩy.

Tôi cũng tới đây trong niềm kính cẩn đối với di sản xưa đầy cổ kính của Việt Nam. Từ muôn đời nay, người nông dân đã đổ mồ hôi làm lụng trên mảnh đất này – lịch sử ấy được khắc ghi bằng những hình ảnh trên những chiếc trống đồng Đông Sơn. Ở nơi dòng sông uốn khúc, Hà Nội vẫn vững vàng trên một ngàn năm. Thế giới đổ về đây để chiêm ngưỡng lụa Việt và tranh Việt, Văn Miếu kia vẫn sừng sững uy nghi như để làm bằng về niềm khát khao tri thức của con người nơi đây.

Thế nhưng, trong thời gian nhiều thế kỷ, vận mệnh của Việt Nam lại thường hay bị áp đặt bởi kẻ khác. Mảnh đất quê hương yêu quý của người Việt không phải lúc nào cũng giữ được là của mình. Thế nhưng như cây tre, tinh thần bất khuất của người Việt được thể hiện trong câu thơ của Lý Thường Kiệt:

Sông núi nước Nam vua Nam ở. 
Rành rành phân định tại sách trời

Hôm nay chúng ta cũng ghi nhớ một lịch sử dài hơn giữa người Việt và người Mỹ, một giai đoạn lịch sử mà người ta thường lãng quên. Cách đây hơn 200 năm khi người Cha lập quốc của chúng tôi, Thomas Jefferson, tìm kiếm giống lúa nào cho trang trại gia đình, ông đã chọn loại giống của Việt Nam, ông nhận xét “gạo này nổi tiếng nhờ màu trắng nhìn thật đẹp mắt, khi ăn cho mùi thơm thật ngon miệng mà lại là loại cho năng suất cao không giống nào bằng.” Chẳng bao lâu sau đó, các tầu buôn của Mỹ đã cập cảng Việt Nam để tìm kiếm doanh thương.

Trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai, người Mỹ đã đến đây để hỗ trợ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống lại sự chiếm đóng. Khi những phi công Mỹ bị bắn rơi, họ được người Việt cứu giúp. Vào ngày Việt Nam tuyên bố độc lập, vào ngày mọi nẻo đường của thành phố này tràn ngập dòng người, Hồ Chí Minh đã gợi nhớ tới bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ. Ông nói “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

CÙNG SÁT CÁNH BÊN NHAU KHẮC PHỤC HÂU QUẢ CHIẾN TRANH

Nếu ở vào một thời nào khác, thì những ước vọng với lý tưởng chung không gì hơn thế và một trang sử tương đồng về quyết tâm xóa bỏ chủ nghĩa thực dân chắc là đã gắn chúng ta lại với nhau được gần hơn và được nhanh hơn.

Đáng ra phải như thế, nhưng đó lại là thời kỳ Chiến tranh lạnh với các bên đối kháng cạnh tranh và nỗi khiếp sợ chủ nghĩa cộng sản đã lôi chúng ta vào xung đột. Không khác gì những xung đột đã diễn ra trong suốt lịch sử loài người, chúng ta lại một lần nữa thấm thía sự thật cay đắng – rằng chiến tranh, dù với mục đích nào của chúng ta đi nữa, đều đưa đến đau thương và thảm kịch.

Tại nghĩa trang liệt sĩ của các các bạn không xa chỗ này và trên bàn thờ của các gia đình ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam, các bạn tưởng nhớ tới 3 triệu người Việt, là những người lính và thường dân ở cả hai bên đã hi sinh. Tại bức tường tưởng niệm của chúng tôi ở Washington, chúng ta có thể chạm tay vào tên họ của 58 315 người Mỹ đã hi sinh trong cuộc xung đột.

Ở cả hai nước chúng ta, các cựu chiến binh và gia đình những người đã ngã xuống không lúc nào nguôi được nỗi đau mất bạn bè và mất người thân. Cũng như điều chúng tôi thấm thía ở Mỹ rằng dù chúng ta có không đồng ý kiến với nhau về cuộc chiến, chúng ta vẫn phải luôn luôn vinh danh những chiến sĩ trong quân ngũ, chúng ta phải luôn luôn chào đón họ trở về quê hương với sự tôn kính xứng đáng với họ, nhờ thế mà chúng ta mới có thể cùng nhau gặp gỡ trong ngày hôm nay, người Việt và người Mỹ, để chúng ta cùng chung sự thấu hiểu nỗi đau đớn và những hi sinh của cả hai bên.

Gần đây hơn, trong hơn hai thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc và hôm nay thế giới có thể thấy những thành tựu ngoạn mục của các bạn. Với những cải cách kinh tế và với các hiệp định thương mại, gồm cả các hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, các bạn đã hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu hàng hóa của mình tới mọi nơi trên thế giới. Đầu tư nước ngoài mỗi ngày mỗi vào nhiều hơn. Là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở châu Á, Việt Nam đã vượt lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.

Chúng ta thấy tiến bộ của Việt Nam trong những tòa nhà chọc trời và các tòa nhà cao ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các trung tâm mua sắm mới và các trung tâm đô thị mới. Chúng ta thấy những tiến bộ ấy trong những vệ tinh mà Việt Nam phóng lên không gian, chúng ta thấy những tiến bộ ấy ở thế hệ mới đang dùng mạng, đang khai trương khởi nghiệp và đang vận hành các dự án phát triển mới.

Chúng ta thấy những tiến bộ ấy trong số hàng chục triệu người Việt đang nối mạng trên Facebook và Instagram. Và chúng ta lên mạng không phải là để chỉ đăng các tấm ảnh tự sướng – mặc dầu tôi có nghe là các bạn hay làm thế lắm – (tiếng cười) - và tới giờ này tôi phải nói là có con số khủng những người đã mời tôi ghé mặt cùng các bạn ấy làm cái hình tự sướng.

Các bạn cũng đang lên tiếng vì những công cuộc được các bạn cho là điều quan trọng, chẳng hạn như việc cứu những hàng cây cổ ở Hà Nội.

Thế là tất cả những năng động ấy đã mang lại thành quả là những tiến bộ thật sự trong đời sống con người. Ở Việt Nam đây, các bạn đã xoay chuyển tình thế trong việc giảm tình trạng đói nghèo cùng cực, các bạn đã làm cho thu nhập gia đình nâng lên rất nhiều và các bạn cũng đã đẩy được hàng triệu người lên tầng lớp bậc trung đang mở rộng rất nhanh. Tất cả các con số về tình trạng người đói, người bệnh và tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ sơ sinh đều giảm xuống. Số người được dùng nước sạch, được cấp điện, số trẻ đi học, và tỷ lệ số người biết đọc biết viết – tất cả đều tăng lên. Đây là sự tiến bộ phi thường. Đây là những thành tựu các bạn đã đạt được trong một thời gian rất ngắn.

Nhờ Việt Nam đã thay đổi, cả mối quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta cũng thay đổi. Chúng ta học bài mà thầy Thích Nhất Hạnh từng khai mở “Đối thoại thực sự là khi cả hai bên đều thực tâm thay đổi”. Nhờ đó mà chính cuộc chiến đã từng chia rẽ chúng ta nay lại trở thành nguồn cho vết thương lành lại.

Nhờ đó mà chúng ta tìm kiếm người mất tích và cuối cùng đưa họ trở về quê hương. Nhờ đó mà chúng ta giúp phát hiện bom mình còn sót lại, bởi vì không một đứa trẻ nào đáng bị mất chân chỉ vì đang chạy nhảy ngoài kia.

Trong khi chúng tôi tiếp tục giúp người Việt bị khuyết tật và trẻ em khuyết tật, chúng tôi cũng tiếp tục giúp việc giải độc chất mầu da cam – dioxin – để Việt Nam có thể khai thác và phát triển những vùng đất ở đó. Chúng tôi tự hào về những công việc chúng ta phối hợp với nhau ở Đà Nẵng và chúng tôi mong đợi sẽ hỗ trợ nỗ lực của các bạn ở Biên Hòa.

Chúng ta sẽ không bao giờ quên rằng sự hòa giải giữa hai nước chúng ta đã được dẫn dắt bởi các cựu chiến binh đã từng đối mặt nhau ở hai bên chiến tuyến. Hãy nghĩ tới Thượng nghị sĩ John MacCain, tù nhân chiến tranh đã từng bị giam ở đây trong ngần ấy năm, khi ông gặp Tướng Giáp được nghe Tướng Giáp nói rằng hai nước chúng ta không nên là kẻ thù của nhau mà phải là bạn của nhau.

Hãy nghĩ tới tất cả những người cựu chiến binh người Việt và người Mỹ đã giúp chúng ta hàn gắn vết thương và xây dựng những sợi dây liên hệ mới. Hiếm có ai cống hiến được nhiều hơn trong lĩnh vực này trong thời gian bao nhiêu năm qua bằng cựu Trung úy Hải quân nay là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, John Kerry, đang có mặt ở đây. Xin thay mặt tất cả chúng tôi, John, chúng tôi vô cùng trân trọng những nỗ lực phi thường đó. (Vỗ tay)

Chính nhờ có các cựu chiến binh của chúng ta đã chỉ lối cho chúng ta đi, chính nhờ có các chiến binh dũng mãnh đã quả cảm theo đuổi hòa bình mà nhân dân chúng ta hôm nay đã đến gần được với nhau hơn bao giờ hết.

ÁNH SÁNG HÒA BÌNH HỢP TÁC ĐÃ ĐẨY LÙI BÓNG MÂY  U ÁM CỦA QUÁ KHỨ HẬN THÙ CHIẾN TRANH

Thương mại của chúng ta tăng vọt. Sinh viên chúng ta cùng học với nhau, các vị học giả của chúng ta cùng nghiên cứu với nhau. Chúng tôi chào đón nhiều sinh viên Việt Nam sang du học ở Mỹ đông nhất so với bất cứ nước nào khác ở Đông Nam Á.

Và mỗi năm các bạn chào đón ngày càng nhiều hơn số khách du lịch Mỹ tới đây, trong đó có rất đông bạn trẻ Mỹ tây ba lô, để thăm 36 phố phường Hà Nội, ghé các tiệm hàng ở Hội An và chiêm ngưỡng cố đô Huế.

Tâm hồn người Việt và người Mỹ như đang cùng rung lên tiếng lòng với Văn Cao – “Từ đây người biết quê người; từ đây người biết thương người.”

Là Tổng thống, tôi đã gây dựng trên tiến bộ đó. Với Đối tác Toàn diện mới, hai chính phủ chúng ta đang cùng phối hợp chặt chẽ với nhau ở mức chưa từng bao giờ được như thế từ trước tới nay. Và với chuyến thăm này, chúng ta cùng đặt quan hệ giữa hai nước trên nền tảng vững chắc hơn cho những thập kỷ trước mắt.

Theo một nghĩa nữa, lịch sử lâu dài giữa hai dân tộc chúng ta được khởi đầu bởi Thomas Jefferson cách đây hơn hai thế kỷ nay đã vừa trọn một vòng tròn. Lịch sử dài lâu ấy trải dài cùng năm tháng với vô vàn cố gắng của biết bao nhiêu con người.

Nhưng hôm nay chúng ta có thể nói lên một điều mà trước đây đã có lúc tưởng rằng không ai có thể nào tưởng tượng nổi: Ngày nay, Việt Nam và Hoa Kỳ là đối tác của nhau.

Và tôi cũng tin tưởng rằng những điều chúng ta đã trải qua sẽ là bài học cho thế giới. Đã có những khi mà rất nhiều cuộc xung đột tưởng chừng vô phương, tưởng chừng không bao giờ có hồi kết, nhưng chúng ta đã cho thế giới thấy rằng trái tim con người có thể thay đổi, chúng ta đã cho thế giới thấy rằng một tương lai khác là điều hoàn toàn có thể khi chúng ta không chịu biến mình thành kẻ tù tội của quá khứ.

Chúng ta đã cho thấy ý nghĩa thật sự của câu rằng hòa bình có thể tốt hơn chiến tranh. Chúng ta đã cho thấy cách tốt nhất để thúc đẩy sự tiến bộ và nâng cao phẩm giá của con người là bằng cách hợp tác chứ không phải bằng xung đột. Đó chính là những gì mà Việt Nam và Mỹ có thể thể hiện cho thế giới thấy.

Ngày nay, quan hệ đối tác mới của Mỹ với Việt Nam được bắt rễ từ vài chân lý căn bản này. Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền và không một nước nào khác có thể áp đặt ý chí của họ lên các bạn hoặc quyết định vận mệnh các bạn. (Vỗ tay)

Ngày nay Hoa Kỳ có sự quan tâm ở đây. Chúng tôi có sự quan tâm đối với thành công của Việt Nam. Nhưng Quan hệ Đối tác toàn diện của chúng ta vẫn còn ở trong giai đoạn đầu. Và trong thời gian còn lại ở cương vị của mình, tôi muốn chia sẻ với các bạn tầm nhìn mà tôi tin tưởng có thể dẫn dắt chúng ta trong những thập kỷ tới.

Trước hết, chúng ta hãy cùng làm việc với nhau để tạo ra cơ hội thật sự và mang lại thịnh vượng thật sự cho tất cả mọi người dân chúng ta. Chúng ta đều biết những gì cần phải có để gặt hái được thành công kinh tế trong thế kỷ 21.

Trong nền kinh tế toàn cầu của chúng ta ngày nay, dòng đầu tư và dòng thương mại chỉ chảy tới chỗ nào có pháp quyền, đơn giản bởi vì chẳng ai muốn phải làm bước đầu tiên là phải đưa hối lộ mới có cửa để bắt đầu làm ăn kinh doanh. Chẳng ai muốn đem hàng hóa tới bán tại nơi nào hoặc đi học ở đâu mà không biết người ở nơi đó sẽ đối xử với mình ra sao.

GIÁO DỤC LÀ PHƯƠNG THỨC TỐT NHẤT GIÚP CON EM CHÚNG TA  TRỞ THÀNH NGƯỜI HỮU DỤNG, KHÔNG DỐT NÁT, KHÔNG HẸP HÒI, KHÔNG ĐỘC ÁC 

Trong nền kinh tế trí thức, công ăn việc làm sẽ đổ về nơi nào mà con người được tự do suy nghĩ, được tự do trao đổi ý tưởng và được tự do phát minh sáng chế. Đối tác kinh tế thật sự không phải chỉ là việc nước này đi khai thác tài nguyên của nước khác. Mà là việc phải đầu tư vào nguồn tài nguyên lớn lao nhất mà chúng ta có, đó là con người của chúng ta, đó là kỹ năng và tài năng của những con người đó, dù các bạn sống ở nơi thành phố lớn hay ở làng nhỏ nông thôn. Và đó chính là kiểu đối tác mà nước Mỹ đang mời các bạn.

Như tôi vừa công bố hôm qua, lần đầu tiên Đội Hòa bình sẽ đến Việt Nam tập trung vào việc dạy tiếng Anh. Sau một thế hệ thanh niên Mỹ đến đây để chiến đấu, một thế hệ mới người Mỹ đang sắp tới đây để dạy học, để xây dựng và để làm cho tình bạn giữa chúng ta sẽ trở nên sâu sắc hơn. (Vỗ tay)

Một số các công ty công nghệ hàng đầu của Mỹ và các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đang phối hợp cùng làm việc với các trường đại học Việt Nam để đẩy mạnh việc đào tạo trong các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật công trình, ngành toán và ngành y.

Mặc dù chúng tôi vẫn luôn giang tay chào đón ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam sang Mỹ hơn nữa, chúng tôi cũng tin tưởng rằng các bạn trẻ xứng đáng được hưởng nền giáo dục đào tạo đẳng cấp thế giới ở ngay tại đây ở ngay tại Việt Nam.

Đó là một trong những lý do tại sao chúng tôi thật hào hứng trước việc mùa thu tới, trường đại học Fulbright University Việt Nam sẽ khai trương ở thành phố Hồ Chí Minh – đây là trường đại học độc lập, phi lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam – tại đây nhà trường sẽ được hoàn toàn tự do học thuật và sẽ cấp học bổng cho những ai cần. (Vỗ tay.)

Sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu ở trường này sẽ chú trọng vào các ngành chính sách công, quản lý và kinh doanh; ngành kỹ thuật công trình và khoa học máy tính; và ngành nghệ thuật khoáng đạt – tất cả từ học thơ Nguyễn Du đến học triết Phan Chu Trinh tới học toán Ngô Bảo Châu.

Và chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng đối tác với các bạn trẻ và các nhà doanh nghiệp trẻ bởi vì chúng tôi tin là nếu các bạn có thể chỉ cần tiếp cận được tới kỹ năng và công nghệ và tiếp cận được tới dòng vốn cơ bản mà các bạn cần thì không có gì có thể còn là trở ngại cho các bạn nữa – và tất cả những điều đó tất nhiên là cũng áp dụng đối với các bạn nữ tài năng của Việt Nam. (Vỗ tay.)

Chúng tôi cho rằng bình đẳng giới là một nguyên tắc quan trọng. Từ thời Hai Bà Trưng cho tới hôm nay, người phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và tự tin luôn luôn giúp cho đất nước tiến lên phía trước. Điều này quá rõ – tôi nói thế ở bất cứ nơi đâu trên thế giới mà tôi tới – gia đình, cộng đồng và quốc gia sẽ trở nên phồn vinh hơn khi các em gái và phụ nữ được cơ hội bình đẳng ở nhà trường, ở nơi làm việc và trong chính phủ. Điều này đúng ở tất cả mọi nơi, và cũng đúng ở đây tại Việt Nam. (Vỗ tay.)

“NƯỚC LỚN KHÔNG ĐƯỢC BẮT NẠT NƯỚC NHỎ”!

Chúng ta sẽ tiếp tục làm việc để tiềm năng kinh tế của các bạn sẽ được khai thác tối đa thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái bình dương TPP. Ở tại Việt Nam đây, TPP sẽ cho các bạn dịp bán ra thế giới được nhiều sản phẩm của mình hơn và từ đó sẽ hấp dẫn được những đầu tư mới. TPP sẽ đòi hỏi những cải cách để bảo vệ người lao động, bảo vệ pháp quyền và bảo vệ tài sản trí tuệ. Và Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ giúp Việt Nam trong khi Việt Nam đang nỗ lực đảm bảo thực hiện đầy đủ những cam kết của mình. Tôi muốn các bạn biết rằng với cương vị là Tổng thống Hoa Kỳ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP bởi vì các bạn sẽ có điều kiện mua nhiều hơn hàng hóa của chúng tôi, chính hiệu “Made in America.”

Hơn nữa, tôi ủng hộ TPP vì những lợi ích chiến lược quan trọng của nó. Nó sẽ làm cho Việt Nam bớt bị lệ thuộc vào bất cứ một đối tác thương mại duy nhất nào mà sẽ được hưởng những mối liên kết mới rộng rãi hơn với nhiều đối tác hơn, kể cả Hoa Kỳ. (Vỗ tay.)

Và TPP sẽ tăng cường sự hợp tác khu vực. Sẽ giúp giải quyết những bất bình đẳng kinh tế và sẽ thúc đẩy nhân quyền với việc phải áp dụng chế độ lương cao hơn và điều kiện làm việc an toàn hơn. Lần đầu tiên tại đây ở Việt Nam sẽ áp dụng quyền được lập ra các công đoàn lao động độc lập và nghiêm cấm lao động cưỡng bức và lao động trẻ em. TPP cũng có những quy tắc nghiêm ngặt nhất về bảo vệ môi trường và các tiêu chuẩn mạnh mẽ nhất về chống tham nhũng chưa từng có ở bất cứ hiệp định thương mại nào trong lịch sử.

Đó là tương lai mà TPP mang lại cho chúng ta, bởi vì tất cả chúng ta – Hoa Kỳ, Việt Nam và tất cả các bên tham gia ký kết – sẽ phải chấp hành và thực thi các quy định mà chúng ta đã cùng nhau xây dựng. Đó là tương lai dành cho tất cả chúng ta. Vậy là bây giờ chỉ việc bắt tay vào làm – vì mục đích kinh tế thịnh vượng và an ninh quốc gia của chúng ta.

Từ đây đưa tôi tới lĩnh vực thứ hai mà chúng ta có thể làm việc cùng nhau đó là đảm bảo nền an ninh chung của chúng ta. Với chuyến thăm này, chúng ta đã thỏa thuận nâng tầm hợp tác an ninh và xây dựng thêm lòng tin giữa các quân nhân hai nước chúng ta. Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ việc huấn luyện đào tạo và trang bị cho lực lượng Cảnh sát Biển để nâng cao năng lực hàng hải của Việt Nam.

Chúng ta sẽ phối hợp thực hiện cứu trợ nhân đạo khi xảy ra thảm họa. Hôm qua tôi cũng vừa công bố việc sẽ dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận bán vũ khí, Việt Nam sẽ được tiếp cận nhiều hơn tới các thiết bị quân sự mà các bạn cần để đảm bảo an ninh. Đó là Hoa Kỳ thể hiện cam kết của mình bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Việt Nam. (Vỗ tay.)

Nói rộng hơn, thế kỷ 20 đã dạy tất cả chúng ta – cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam – rằng trật tự quốc tế làm chỗ dựa cho an ninh chung của chúng ta có nguồn gốc là các quy định và thông lệ nhất định. Các quốc gia là có chủ quyền, và dù rằng một dân tộc lớn bao nhiêu và nhỏ thế nào đi nữa thì chủ quyền quốc gia phải được tôn trọng và lãnh thổ quốc gia là không được vi phạm. Các nước lớn không được bắt nạt nước nhỏ hơn. Bất đồng cần được giải quyết một cách hòa bình. (Vỗ tay).

Và những tổ chức khu vực như là ASEAN và Thượng đỉnh Đông Á cần được tiếp tục củng cố mạnh mẽ hơn. Đó là những điều mà tôi tin tưởng. Đó là những điều mà Hoa Kỳ tin tưởng. Đó là kiểu đối tác mà Mỹ mở ra mời khu vực này. Tôi chờ mong được thúc đẩy tinh thần tôn trọng và hòa giải vào cuối năm nay khi tôi sẽ trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Lào.

Ở biển Đông, Hoa Kỳ không phải là một bên đòi lãnh thổ trong các tranh chấp hiện nay. Nhưng chúng tôi sát cánh với đối tác để nêu cao những nguyên tắc cơ bản như tự do hàng hải và vùng tự do bay, và thương mại hợp pháp không bị ngăn trở, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua các chế định luật pháp phù hợp với pháp luật quốc tế.

Và chúng tôi sẽ tiến lên phía trước, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bay, chạy tàu và hoạt động ở bất cứ nơi nào được pháp luật quốc tế cho phép và chúng tôi sẽ ủng hộ quyền của tất cả các quốc gia cũng hành động như thế. (Vỗ tay.)

Trong khi chúng ta hợp tác chặt chẽ hơn trong những phương diện mà tôi nêu trên, quan hệ đối tác của chúng ta còn bao hàm thành tố thứ ba – giải quyết những lĩnh vực mà hai chính phủ chúng ta còn bất đồng trong đó có bất đồng về vấn đề nhân quyền. Tôi nói điều này không phải là nói riêng về Việt Nam. Không có quốc gia nào là hoàn hảo.

KHÔNG CÓ QUỐC GIA, THỂ CHẾ NÀO LÀ HOÀN HẢO

Hai thế kỷ rồi mà Hoa Kỳ vẫn đang còn phải luôn cố gắng làm sao cho xứng đáng với những lý tưởng thời lập quốc. Chúng tôi vẫn đang còn phải đương đầu với những khiếm khuyết của mình – quá nhiều tiền bạc trong chính trị của chúng tôi, bất bình đẳng kinh tế tăng lên, những định kiến chủng tộc trong hệ thống tư pháp hình sự của chúng tôi, khi cùng làm một loại việc mà phụ nữ vẫn chưa được hưởng lương như nam giới.

Chúng tôi vẫn còn các vấn đề. Và chúng tôi không phải là được miễn bị chỉ trích nhé, tôi dám chắc với các bạn như thế đấy. Ngày nào tôi cũng được nghe. Thế nhưng sự xăm soi đó, cuộc tranh luận mở như thế làm cho chúng tôi phải nhìn thẳng vào những điều chưa hoàn hảo và chính nhờ việc cho phép bất cứ ai cũng được lên tiếng mà đã giúp cho chúng tôi trưởng thành mạnh mẽ hơn, thịnh vượng hơn và công minh hơn.

Như tôi đã từng phát biểu – Hoa Kỳ không tìm kiếm việc áp đặt mô hình chính phủ của mình lên Việt Nam. Những quyền mà tôi nói tới, tôi không cho đó là các giá trị Mỹ mà tôi cho đó là các giá trị phổ quát của nhân loại được ghi trong Tuyên bố Phổ quát về Nhân quyền. Những quyền đó có trong Hiến pháp Việt Nam, trong Hiến pháp ghi rõ “công dân có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền lập hội và quyền biểu tình.”

Tất cả có trong Hiến pháp Việt Nam (Vỗ tay.) Cho nên đây đúng là vấn đề cho tất cả chúng ta, cho mỗi quốc gia phải cố gắng một cách nhất quán để thực hiện những nguyên tắc đó để đảm bảo chắc chắn là chúng ta – những người đang nắm chính phủ – phải thực tâm với những lý tưởng ấy.

Trong những năm qua, Việt Nam đã có một số tiến bộ. Việt Nam đã quyết tâm đưa các bộ luật của nước nhà phù hợp với các quy định của hiến pháp mới và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Theo các luật mới được ban hàng, chính phủ sẽ công khai hơn về ngân sách và công chúng sẽ có quyền tiếp cận nhiều thông tin hơn. Và như tôi cũng đã nói, Việt Nam đã cam kết thực hiện các cải cách về kinh tế và lao động trong khuôn khổ TPP. Cho nên tất cả đó là các bước tích cực.

Và cuối cùng là, tương lai của Việt Nam sẽ được quyết định bởi nhân dân Việt Nam. Mỗi quốc gia phải tìm cho mình con đường đi, hai nước chúng ta có những truyền thống khác nhau, có hệ thống chính trị khác nhau và văn hóa khác nhau. Nhưng là người bạn của Việt Nam, cho phép tôi được chia sẻ quan điểm của mình – về điều tại sao tôi có niềm tin rằng các quốc gia sẽ thành công hơn khi các quyền phổ quát được thực thi.

TỰ DO NGÔN LUẬN 

Khi được tự do trình bày quan điểm và khi có tự do ngôn luận và khi mà con người có thể chia sẻ các ý tưởng và khi mà người ta không bị ngăn chặn mạng Internet và mạng xã hội, thì tất cả điều đó sẽ là nguồn nguyên liệu chạy guồng máy kinh tế và để sáng chế phát minh trong guồng máy ấy mới phát huy được sức mạnh. Đó chính là nơi diễn ra của các ý tưởng mới. Đó là cách mà Facebook khởi động. Đó là cách mà một số các công ty vĩ đại nhất của chúng tôi bắt đầu – bởi vì một ai đó có một ý tưởng mới. Đó là một điều khác. Và họ được điều kiện để chia sẻ ý tưởng đó.

TỰ DO BÁO CHÍ 

Khi được tự do báo chí – khi mà các nhà báo và các blogger có điều kiện đưa ra ánh sáng điều bất công hoặc việc lạm dụng – sẽ làm cho người viên chức kia phải có trách nhiệm giải trình rồi từ đó mà xây dựng được lòng tin của công chúng rằng hệ thống này làm việc được.

TỰ DO ỨNG CỬ

Khi các ứng viên có thể ứng cử vào các vị trí công quyền và có thể làm việc vận động một cách tự do và cử tri có thể bầu cho người họ chọn làm người lãnh đạo cho mình trong cuộc bầu cử tự do và công bằng, sẽ làm cho các quốc gia trở nên ổn định hơn, bởi vì công dân biết rằng tiếng nói của họ có giá trị và cuộc thay đổi trong hòa bình là điều có thể xảy ra. Đó là cách đưa được người mới vào hệ thống.

TỰ DO TÍN NGƯỠNG

Tự do tín ngưỡng không chỉ cho phép mọi người bày tỏ một cách trọn vẹn tình yêu thương và sự bao dung là cái hồn cốt của tất cả các tôn giáo vĩ đại – mà còn cho phép các tổ chức tôn giáo được phụng sự cộng đồng thông qua các hoạt động ở trường học và bệnh viện và chăm sóc người nghèo và chăm sóc những người dễ bị tổn thương và bị thiệt thòi trong xã hội.

TỰ DO HỘI HỌP 

Tự do hội họp – là khi công dân được tự do tổ chức hoạt động trong xã hội dân sự – thì các quốc gia cũng có thể giải quyết được các vấn đề thử thách là những loại vấn đề mà đôi khi chính phủ không thể nào tự mình đứng ra giải quyết được.

Cho nên quan điểm của tôi là việc đề cao và thực thi các quyền đó không phải là mối đe dọa cho ổn định, mà chính lại là cách tăng cường sự ổn định và làm nền móng cho sự tiến bộ.

Suy cho cùng, chính vì sự khao khát được các quyền đó đã làm cảm hứng cho nhân dân trên toàn thế giới, kể cả người dân Việt Nam, đã vùng lên xóa bỏ chế độ thực dân.

Bởi thế tôi có niềm tin rằng nêu cao và thực thi các quyền này là sự thể hiện trọn vẹn nhất nền độc lập mà biết bao dân tộc hằng mong ước, kể cả mong ước của người dân ở đây, tại quốc gia đã trịnh trọng tuyên bố là “của Dân, do Dân và vì Dân”.

VIỆT NAM SẼ KHÁC VỚI CÁCH LÀM CỦA HOA KỲ, NHƯNG NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN PHẢI ĐƯỢC GIỮ LẠI

Việt Nam sẽ làm khác với cách làm của Hoa Kỳ. Và mỗi nước chúng ta cũng sẽ làm rất khác với rất nhiều nước trên thế giới. Nhưng đây là những quyền cơ bản mà tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta sẽ đều phải cố gắng thực hiện rồi cải thiện.

Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ rời cương vị này, nên tôi lại có cái may mắn là có gần tám năm cùng chìm nổi với hệ thống Hoa Kỳ để từ đó nhận ra điều gì làm nên hiệu quả cho hệ thống ấy. Tôi cũng có cái may mắn được giao lưu trao đổi qua lại với nhiều quốc gia trên thế giới là những nơi cũng không ngừng cố gắng cải thiện hệ thống của họ. (*****)

Cho nên, quan điểm của tôi rằng bảo vệ các quyền con người không phải là sự đe dọa cho ổn định mà chính là góp phần tạo sức mạnh cho xã hội và là nền móng cho sự phát triển.

Sau hết thì đó là khát vọng được hưởng những quyền này đã thôi thúc nhân dân toàn thế giới kể cả ở Việt Nam đứng lên lật đổ chủ nghĩa thực dân. Tôi tin rằng tôn trọng những quyền này một cách tuyệt đối chính là tôn trọng nền độc lập mà rất nhiều thế hệ đã nâng niu kể cả ở Việt Nam, một quốc gia đã tuyên bố thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Việt Nam sẽ đạt được những điều này khác với cách Hoa Kỳ đã làm và mỗi quốc gia đều khác nhau. Nhưng nó luôn tồn tại những nguyên tắc chung mà tôi tin chúng ta luôn phải cùng nhau làm việc và phấn đầu cùng nhau.”

Về thách thức toàn cầu, Việt Nam cần bảo vệ các nơi như Vịnh Hạ Long, Sơn Đoòng vì tương lai con cháu chúng ta. Nước biển tăng sẽ làm ảnh hưởng đến các vùng ven biển và Việt Nam cần thực hiện cam kết chống lại ảnh hưởng của biến đổi khí hậu., chống lại ảnh hưởng vùng ngập mặn như đồng bằng sông Cửu Long - nơi cung cấp thực phẩm lớn cho thế giới. Chúng ta cũng phải giúp đỡ cho các nước để xây dựng năng lực về nhiều vấn đề như cải thiện y tế. Mỹ vui mừng khi đã giúp đỡ Việt Nam tham gia hơn nữa về gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Đặc biệt hai nước trước đây tham gia trận chiến, nhưng giờ cùng hợp tác bảo vệ hòa bình. Việt Nam và Mỹ cần nỗ lực hơn nữa trong việc tăng cường đối thoại hai bên.

Nhìn vào lịch sử, thách thức mà chúng ta vượt qua, tôi lạc quan vào tương lai của quan hệ hai nước chúng ta. Niềm tin tôi là nhờ nền tảng dựa trên tình hữu nghị. Hay như Trịnh Công Sơn viết bài “nối vòng tay lớn” để mở tấm lòng của mình ra để thấy bản chất và trái tim của mình.

Tương lai nằm trong tay các bạn. Mỹ luôn là đối tác và người bạn của các bạn. Sau này khi người Mỹ Việt Nam học cùng nhau, cùng phối hợp sáng tạo với nhau thì các bạn hãy nhớ khoảnh khắc tôi đứng ở đây trước các bạn như Nguyễn Du đã nói: 

Rằng trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi



ENGLISH VERSION

Remarks by President Obama in Address to the People of Vietnam

National Convention Center

Hanoi, Vietnam

12:11 P.M. ICT

PRESIDENT OBAMA: Xin chào! (Applause.) Xin chào Vietnam! (Applause.) Thank you. Thank you so much. To the government and the people of Vietnam, thank you for this very warm welcome and the hospitality that you have shown to me on this visit. And thank all of you for being here today. (Applause.) We have Vietnamese from across this great country, including so many young people who represent the dynamism, and the talent and the hope of Vietnam.

On this visit, my heart has been touched by the kindness for which the Vietnamese people are known. In the many people who have been lining the streets, smiling and waving, I feel the friendship between our peoples. Last night, I visited the Old Quarter here in Hanoi and enjoyed some outstanding Vietnamese food. I tried some Bún Chả. (Applause.) Drank some bia Ha Noi. But I have to say, the busy streets of this city, I’ve never seen so many motorbikes in my life. (Laughter.) So I haven’t had to try to cross the street so far, but maybe when I come back and visit you can tell me how.

I am not the first American President to come to Vietnam in recent times. But I am the first, like so many of you, who came of age after the war between our countries. When the last U.S. forces left Vietnam, I was just 13 years old. So my first exposure to Vietnam and the Vietnamese people came when I was growing up in Hawaii, with its proud Vietnamese American community there.

At the same time, many people in this country are much younger than me. Like my two daughters, many of you have lived your whole lives knowing only one thing – and that is peace and normalized relations between Vietnam and the United States. So I come here mindful of the past, mindful of our difficult history, but focused on the future – the prosperity, security and human dignity that we can advance together.

I also come here with a deep respect for Vietnam’s ancient heritage. For millennia, farmers have tended these lands – a history revealed in the Dong Son drums. At this bend in the river, Hanoi has endured for more than a thousand years. The world came to treasure Vietnamese silks and paintings, and a great Temple of Literature stands as a testament to your pursuit of knowledge. And yet, over the centuries, your fate was too often dictated by others. Your beloved land was not always your own. But like bamboo, the unbroken spirit of the Vietnamese people was captured by Ly Thuong Kiet – “the Southern emperor rules the Southern land. Our destiny is writ in Heaven’s Book.”

Today, we also remember the longer history between Vietnamese and Americans that is too often overlooked. More than 200 years ago, when our Founding Father, Thomas Jefferson, sought rice for his farm, he looked to the rice of Vietnam, which he said had “the reputation of being whitest to the eye, best flavored to the taste, and most productive.” Soon after, American trade ships arrived in your ports seeking commerce.

During the Second World War, Americans came here to support your struggle against occupation. When American pilots were shot down, the Vietnamese people helped rescue them. And on the day that Vietnam declared its independence, crowds took to the streets of this city, and Ho Chi Minh evoked the American Declaration of Independence. He said, “All people are created equal. The Creator has endowed them with inviolable rights. Among these rights are the right to life, the right to liberty, and the right to the pursuit of happiness.”

In another time, the profession of these shared ideals and our common story of throwing off colonialism might have brought us closer together sooner. But instead, Cold War rivalries and fears of communism pulled us into conflict. Like other conflicts throughout human history, we learned once more a bitter truth – that war, no matter what our intentions may be, brings suffering and tragedy.

At your war memorial not far from here, and with family altars across this country, you remember some 3 million Vietnamese, soldiers and civilians, on both sides, who lost their lives. At our memorial wall in Washington, we can touch the names of 58,315 Americans who gave their lives in the conflict. In both our countries, our veterans and families of the fallen still ache for the friends and loved ones that they lost. Just as we learned in America that, even if we disagree about a war, we must always honor those who serve and welcome them home with the respect they deserve, we can join together today, Vietnamese and Americans, and acknowledge the pain and the sacrifices on both sides.

More recently, over the past two decades, Vietnam has achieved enormous progress, and today the world can see the strides that you have made. With economic reforms and trade agreements, including with the United States, you have entered the global economy, selling your goods around the world. More foreign investment is coming in. And with one of the fastest-growing economies in Asia, Vietnam has moved up to become a middle-income nation.

We see Vietnam’s progress in the skyscrapers and high-rises of Hanoi and Ho Chi Minh City, and new shopping malls and urban centers. We see it in the satellites Vietnam puts into space and a new generation that is online, launching startups and running new ventures. We see it in the tens of millions of Vietnamese connected on Facebook and Instagram. And you’re not just posting selfies – although I hear you do that a lot – (laughter) – and so far, there have been a number of people who have already asked me for selfies. You’re also raising your voices for causes that you care about, like saving the old trees of Hanoi.

So all this dynamism has delivered real progress in people’s lives. Here in Vietnam, you’ve dramatically reduced extreme poverty, you’ve boosted family incomes and lifted millions into a fast-growing middle class. Hunger, disease, child and maternal mortality are all down. The number of people with clean drinking water and electricity, the number of boys and girls in school, and your literacy rate – these are all up. This is extraordinary progress. This is what you have been able to achieve in a very short time.

And as Vietnam has transformed, so has the relationship between our two nations. We learned a lesson taught by the venerable Thich Nhat Hanh, who said, “In true dialogue, both sides are willing to change.” In this way, the very war that had divided us became a source for healing. It allowed us to account for the missing and finally bring them home. It allowed us to help remove landmines and unexploded bombs, because no child should ever lose a leg just playing outside. Even as we continue to assist Vietnamese with disabilities, including children, we are also continuing to help remove Agent Orange – dioxin – so that Vietnam can reclaim more of your land. We’re proud of our work together in Danang, and we look forward to supporting your efforts in Bien Hoa.

Let’s also not forget that the reconciliation between our countries was led by our veterans who once faced each other in battle. Think of Senator John McCain, who was held for years here as a prisoner of war, meeting General Giap, who said our countries should not be enemies but friends. Think of all the veterans, Vietnamese and American, who have helped us heal and build new ties. Few have done more in this regard over the years than former Navy lieutenant, and now Secretary of State of the United States, John Kerry, who is here today. And on behalf of all of us, John, we thank you for your extraordinary effort. (Applause.)

Because our veterans showed us the way, because warriors had the courage to pursue peace, our peoples are now closer than ever before. Our trade has surged. Our students and scholars learn together. We welcome more Vietnamese students to America than from any other country in Southeast Asia. And every year, you welcome more and more American tourists, including young Americans with their backpacks, to Hanoi’s 36 Streets and the shops of Hoi An, and the imperial city of Hue. As Vietnamese and Americans, we can all relate to those words written by Van Cao – “From now, we know each other’s homeland; from now, we learn to feel for each other.”

As President, I’ve built on this progress. With our new Comprehensive Partnership, our governments are working more closely together than ever before. And with this visit, we’ve put our relationship on a firmer footing for decades to come. In a sense, the long story between our two nations that began with Thomas Jefferson more than two centuries ago has now come full circle. It has taken many years and required great effort. But now we can say something that was once unimaginable: Today, Vietnam and the United States are partners.

And I believe our experience holds lessons for the world. At a time when many conflicts seem intractable, seem as if they will never end, we have shown that hearts can change and that a different future is possible when we refuse to be prisoners of the past. We’ve shown how peace can be better than war. We’ve shown that progress and human dignity is best advanced by cooperation and not conflict. That’s what Vietnam and America can show the world.

Now, America’s new partnership with Vietnam is rooted in some basic truths. Vietnam is an independent, sovereign nation, and no other nation can impose its will on you or decide your destiny. (Applause.) Now, the United States has an interest here. We have an interest in Vietnam’s success. But our Comprehensive Partnership is still in its early stages. And with the time I have left, I want to share with you the vision that I believe can guide us in the decades ahead.

First, let’s work together to create real opportunity and prosperity for all of our people. We know the ingredients for economic success in the 21st century. In our global economy, investment and trade flows to wherever there is rule of law, because no one wants to pay a bribe to start a business. Nobody wants to sell their goods or go to school if they don’t know how they’re going to be treated. In knowledge-based economies, jobs go to where people have the freedom to think for themselves and exchange ideas and to innovate. And real economic partnerships are not just about one country extracting resources from another. They’re about investing in our greatest resource, which is our people and their skills and their talents, whether you live in a big city or a rural village. And that’s the kind of partnership that America offers.

As I announced yesterday, the Peace Corps will come to Vietnam for the first time, with a focus on teaching English. A generation after young Americans came here to fight, a new generation of Americans are going to come here to teach and build and deepen the friendship between us. (Applause.) Some of America’s leading technology companies and academic institutions are joining Vietnamese universities to strengthen training in science, technology, engineering, mathematics, and medicine. Because even as we keep welcoming more Vietnamese students to America, we also believe that young people deserve a world-class education right here in Vietnam.

It’s one of the reasons why we’re very excited that this fall, the new Fulbright University Vietnam will open in Ho Chi Minh City – this nation’s first independent, non-profit university – where there will be full academic freedom and scholarships for those in need. (Applause.) Students, scholars, researchers will focus on public policy and management and business; on engineering and computer science; and liberal arts – everything from the poetry of Nguyen Du, to the philosophy of Phan Chu Trinh, to the mathematics of Ngo Bao Chau.

And we’re going to keep partnering with young people and entrepreneurs, because we believe that if you can just access the skills and technology and capital you need, then nothing can stand in your way – and that includes, by the way, the talented women of Vietnam. (Applause.) We think gender equality is an important principle. From the Trung Sisters to today, strong, confident women have always helped move Vietnam forward. The evidence is clear – I say this wherever I go around the world – families, communities and countries are more prosperous when girls and women have an equal opportunity to succeed in school and at work and in government. That’s true everywhere, and it’s true here in Vietnam. (Applause.)

We’ll keep working to unleash the full potential of your economy with the Trans-Pacific Partnership. Here in Vietnam, TPP will let you sell more of your products to the world and it will attract new investment. TPP will require reforms to protect workers and rule of law and intellectual property. And the United States is ready to assist Vietnam as it works to fully implement its commitments. I want you to know that, as President of the United States, I strongly support TPP because you’ll also be able to buy more of our goods, “Made in America.”

Moreover, I support TPP because of its important strategic benefits. Vietnam will be less dependent on any one trading partner and enjoy broader ties with more partners, including the United States. (Applause.) And TPP will reinforce regional cooperation. It will help address economic inequality and will advance human rights, with higher wages and safer working conditions. For the first time here in Vietnam, the right to form independent labor unions and prohibitions against forced labor and child labor. And it has the strongest environmental protections and the strongest anti-corruption standards of any trade agreement in history. That’s the future TPP offers for all of us, because all of us – the United States, Vietnam, and the other signatories – will have to abide by these rules that we have shaped together. That’s the future that is available to all of us. So we now have to get it done – for the sake of our economic prosperity and our national security.

This brings me to the second area where we can work together, and that is ensuring our mutual security. With this visit, we have agreed to elevate our security cooperation and build more trust between our men and women in uniform. We’ll continue to offer training and equipment to your Coast Guard to enhance Vietnam’s maritime capabilities. We will partner to deliver humanitarian aid in times of disaster. With the announcement I made yesterday to fully lift the ban on defense sales, Vietnam will have greater access to the military equipment you need to ensure your security. And the United States is demonstrating our commitment to fully normalize our relationship with Vietnam. (Applause.)

More broadly, the 20th century has taught all of us – including the United States and Vietnam – that the international order upon which our mutual security depends is rooted in certain rules and norms. Nations are sovereign, and no matter how large or small a nation may be, its sovereignty should be respected, and it territory should not be violated. Big nations should not bully smaller ones. Disputes should be resolved peacefully. (Applause.) And regional institutions, like ASEAN and the East Asia Summit, should continue to be strengthened. That’s what I believe. That’s what the United States believes. That’s the kind of partnership America offers this region. I look forward to advancing this spirit of respect and reconciliation later this year when I become the first U.S. President to visit Laos.

In the South China Sea, the United States is not a claimant in current disputes. But we will stand with partners in upholding core principles, like freedom of navigation and overflight, and lawful commerce that is not impeded, and the peaceful resolution of disputes, through legal means, in accordance with international law. As we go forward, the United States will continue to fly, sail and operate wherever international law allows, and we will support the right of all countries to do the same. (Applause.)

Even as we cooperate more closely in the areas I’ve described, our partnership includes a third element – addressing areas where our governments disagree, including on human rights. I say this not to single out Vietnam. No nation is perfect. Two centuries on, the United States is still striving to live up to our founding ideals. We still deal with our shortcomings – too much money in our politics, and rising economic inequality, racial bias in our criminal justice system, women still not being paid as much as men doing the same job. We still have problems. And we’re not immune from criticism, I promise you. I hear it every day. But that scrutiny, that open debate, confronting our imperfections, and allowing everybody to have their say has helped us grow stronger and more prosperous and more just.

I’ve said this before – the United States does not seek to impose our form of government on Vietnam. The rights I speak of I believe are not American values; I think they’re universal values written into the Universal Declaration of Human Rights. They’re written into the Vietnamese constitution, which states that “citizens have the right to freedom of speech and freedom of the press, and have the right of access to information, the right to assembly, the right to association, and the right to demonstrate.” That’s in the Vietnamese constitution. (Applause.) So really, this is an issue about all of us, each country, trying to consistently apply these principles, making sure that we – those of us in government – are being true to these ideals.

In recent years, Vietnam has made some progress. Vietnam has committed to bringing its laws in line with its new constitution and with international norms. Under recently passed laws, the government will disclose more of its budget and the public will have the right to access more information. And, as I said, Vietnam has committed to economic and labor reforms under the TPP. So these are all positive steps. And ultimately, the future of Vietnam will be decided by the people of Vietnam. Every country will chart its own path, and our two nations have different traditions and different political systems and different cultures. But as a friend of Vietnam, allow me to share my view – why I believe nations are more successful when universal rights are upheld.

When there is freedom of expression and freedom of speech, and when people can share ideas and access the Internet and social media without restriction, that fuels the innovation economies need to thrive. That’s where new ideas happen. That’s how a Facebook starts. That’s how some of our greatest companies began – because somebody had a new idea. It was different. And they were able to share it. When there’s freedom of the press – when journalists and bloggers are able to shine a light on injustice or abuse – that holds officials accountable and builds public confidence that the system works. When candidates can run for office and campaign freely, and voters can choose their own leaders in free and fair elections, it makes the countries more stable, because citizens know that their voices count and that peaceful change is possible. And it brings new people into the system.

When there is freedom of religion, it not only allows people to fully express the love and compassion that are at the heart of all great religions, but it allows faith groups to serve their communities through schools and hospitals, and care for the poor and the vulnerable. And when there is freedom of assembly – when citizens are free to organize in civil society – then countries can better address challenges that government sometimes cannot solve by itself. So it is my view that upholding these rights is not a threat to stability, but actually reinforces stability and is the foundation of progress.

After all, it was a yearning for these rights that inspired people around the world, including Vietnam, to throw off colonialism. And I believe that upholding these rights is the fullest expression of the independence that so many cherish, including here, in a nation that proclaims itself to be “of the People, by the People and for the People.”

Vietnam will do it differently than the United States does. And each of us will do it differently from many other countries around the world. But there are these basic principles that I think we all have to try to work on and improve. And I said this as somebody who’s about to leave office, so I have the benefit of almost eight years now of reflecting on how our system has worked and interacting with countries around the world who are constantly trying to improve their systems, as well.

Finally, our partnership I think can meet global challenges that no nation can solve by itself. If we’re going to ensure the health of our people and the beauty of our planet, then development has to be sustainable. Natural wonders like Ha Long Bay and Son Doong Cave have to be preserved for our children and our grandchildren. Rising seas threaten the coasts and waterways on which so many Vietnamese depend. And so as partners in the fight against climate change, we need to fulfill the commitments we made in Paris, we need to help farmers and villages and people who depend on fishing to adapt and to bring more clean energy to places like the Mekong Delta – a rice bowl of the world that we need to feed future generations.

And we can save lives beyond our borders. By helping other countries strengthen, for example, their health systems, we can prevent outbreaks of disease from becoming epidemics that threaten all of us. And as Vietnam deepens its commitment to U.N. peacekeeping, the United States is proud to help train your peacekeepers. And what a truly remarkable thing that is – our two nations that once fought each other now standing together and helping others achieve peace, as well. So in addition to our bilateral relationship, our partnership also allows us to help shape the international environment in ways that are positive.

Now, fully realizing the vision that I’ve described today is not going to happen overnight, and it is not inevitable. There may be stumbles and setbacks along the way. There are going to be times where there are misunderstandings. It will take sustained effort and true dialogue where both sides continue to change. But considering all the history and hurdles that we’ve already overcome, I stand before you today very optimistic about our future together. (Applause.) And my confidence is rooted, as always, in the friendship and shared aspirations of our peoples.

I think of all the Americans and Vietnamese who have crossed a wide ocean – some reuniting with families for the first time in decades – and who, like Trinh Cong Son said in his song, have joined hands, and opening their hearts and seeing our common humanity in each other. (Applause.)

I think of all the Vietnamese Americans who have succeeded in every walk of life – doctors, journalists, judges, public servants. One of them, who was born here, wrote me a letter and said, by “God’s grace, I have been able to live the American Dream…I’m very proud to be an American but also very proud to be Vietnamese.” (Applause.) And today he’s here, back in the country of his birth, because, he said, his “personal passion” is “improving the life of every Vietnamese person.”

I think of a new generation of Vietnamese – so many of you, so many of the young people who are here – who are ready to make your mark on the world. And I want to say to all the young people listening: Your talent, your drive, your dreams – in those things, Vietnam has everything it needs to thrive. Your destiny is in your hands. This is your moment. And as you pursue the future that you want, I want you to know that the United States of America will be right there with you as your partner and as your friend. (Applause.)

And many years from now, when even more Vietnamese and Americans are studying with each other; innovating and doing business with each other; standing up for our security, and promoting human rights and protecting our planet with each other – I hope you think back to this moment and draw hope from the vision that I’ve offered today. Or, if I can say it another way – in words that you know well from the Tale of Kieu – “Please take from me this token of trust, so we can embark upon our 100-year journey together.” (Applause.)

Cam on cac ban. Thank you very much. Thank you, Vietnam. Thank you. (Applause.)

END



BÙI CHÍ VINH - VIẾT VỀ OBAMA NGAY TRÊN ĐƯỜNG CÔNG LÝ 


Chào đón Obama đến Sài Gòn
Trẻ con trong xóm vui như Tết
Nghe tiếng còi hụ ngoài đường là đám nhóc thay phiên nhau hò hét 
Obama, hoan hô Tổng thống Obama !

Ôi những đứa trẻ con không hề phân biệt quốc tịch với màu da 
Chào đón Obama như đón người thân thuộc 
Rừng cờ Mỹ 41 năm không bay ở Việt Nam, bây giờ bay như đám rước 
Suốt con đường Công Lý ngày xưa giờ rợp một màu cờ 

41 năm đồng minh Hoa Kỳ tự chối bỏ đồng minh một cách ngây thơ 
Bây giờ mở mắt thì bao nhiêu người đã chết 
Người chết lềnh bềnh trên đại dương, người chết trong ngục tù bao la, người sức mòn lực kiệt 
Cái giá phải trả của thời gian tàn bạo đến chừng nào 

Dân miền Nam bụng không chứa gươm đao 
Ghét thì quay lưng, không ưa thì nói thẳng 
Không ưa cộng sản Tàu nhưng với nước Mỹ văn minh nhân quyền thì gừng cay muối mặn 
41 năm đói tự do nên biết quý yêu phẩm giá con người 

Chào đón Obama đến Sài Gòn, cả nước rộn niềm vui 
Bọn bán nước tay sai, bọn liếm gót Bắc Kinh tái mặt ư ? Thây kệ 
Những đứa trẻ hồn nhiên đang dạy chúng bài học vỡ lòng về tử tế 
Chọn đúng bạn mà chơi, chớ chọn giặc mà thờ ! 

4 giờ chiều ngày 24/5/2016 




ÐƯỢC LỜI NHƯ CỞI TẤM LÒNG,
GIỞ KIM HOÀN VỚI KHĂN HỒNG TRAO TAY.
RẰNG: “TRĂM NĂM CŨNG TỪ ĐÂY, 
CỦA TIN GỌI MỘT CHÚT NÀY LÀM GHI.”

Có thể nhận thấy rằng đội tư vấn và viết bài phát biểu cho Obama rất rành và am hiểu văn hóa lịch sử Việt Nam, đặc biệt là hứng thú với Truyện Kiều. Trong lần sang thăm Hoa Kỳ lần trước của TBT Nguyễn Phú Trọng, phó tổng thống Joe Biden khi tiếp đón đã đọc hai câu Kiều, “Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời” như một ẩn ý thâm sâu về việc gác lại quá khứ, hợp tác tương lai. Hai câu của phó tổng thống Mỹ đọc là trong bối cảnh Kim Trọng gặp lại Thúy Kiều, mừng tủi tái hợp sau 15 năm xa cách.

Trước đây khi thăm VN năm 2000, Tổng tống Mỹ Bill Clinton cũng lẩy Kiều: “Sen tàn cúc lại nở hoa, Sầu dài ngày ngắn đây đà sang xuân”. Hai câu này là đoạn Kiều gặp lại Thúc Sinh và nhận ra sự thật con người Thúc Sinh sau khi đón nhận đòn thù của Hoạn Thư, he he, độc đáo chưa.

Còn câu của Tổng thống Obama hôm nay lại ở phần trước đó, khi mà Kiều gặp lại Kim Trọng (lần đầu gặp khi viếng mộ Đạm Tiên) đã xiêu lòng buông lời hẹn ước, he he, kết cục thế nào thì mời đọc đoạn trên. Thâm sâu, thâm sâu lắm, đúng là phải bái phục bọn giãy chết.

Ps: TBT Nguyễn Phú Trọng khi kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch Quốc hội năm 2011 cũng lẩy 2 câu Kiều, “Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay”. Phận mỏng quá nên giờ vẫn phải vì dân vì nước dù tuổi đã cao.

(BÙI AN)

MỘT NGƯỜI THỨ NHÌ, MỘT NGƯỜI TRƯỚC BÉT

Chưa thấy tổng thống nước nào được người dân Hà Nội tiếp đón nồng hậu và chân tình như Obama. Nhìn ông ăn bún chả ở quán Hương Liên phố Lê Văn Hưu mà xúc động: chiếc bàn nhỏ không thể giản dị hơn, ông uống bia không dùng cốc, suất bún chả 6 USD, bằng một suất ăn nhanh rẻ tiền nhất ở Mỹ. Nhân dân vây lấy ông, chờ đợi ông, những nụ cười rạng rỡ. Tất cả đều chân thành. Không có ai phải diễn. Tôi chỉ có thể gọi đó là Chính trị tử tế. Ông phân biệt với những kẻ khác, vì ông thực sự là một tổng thống của dân, do dân, vì dân, giữa cái thời mà những từ ấy bị lạm dùng dối trá.

Dạo đầu tháng 11 năm 2008, khi tôi đang trong năm học thứ 3 giảng dạy ở Đại học Wayne State University (Michigan), là lúc diễn ra cuộc bầu tổng thống Mỹ mà Obama là một ứng viên. Ông được giới cấp tiến, đặc biệt là trí thức và sinh viên, ủng hộ mạnh mẽ. Nhưng tôi lo cho ông, vì đến lúc ấy nước Mỹ chưa từng có tổng thống da mầu. Nhớ rằng cho đến năm 1968 dưới thời tổng thống Johnson, người da đen ở Mỹ mới được hưởng chế độ “one man, one vote” (mỗi người một phiếu bầu). Tôi sợ phe bảo thủ của Mỹ sẽ ngăn được Obama trở thành tổng thống da mầu đầu tiên của Hợp chủng quốc. Thậm chí, tôi e ngại nếu được bầu, ông sẽ bị ám sát.

Hôm ấy, tôi vác máy ảnh định ghi lại mấy hình kỷ niệm ở một địa điểm bầu cử. Tới nơi mới biết người ta cấm chụp ảnh trong khu vực bầu, có lẽ để tránh cử tri bị chụp trộm cùng với lá phiếu đã gạch của mình. Đấy là lần duy nhất tôi bị ngăn không cho chụp ảnh trên đất Mỹ.

Chừng 11 giờ đêm hôm ấy, giờ Michigan (miền Đông nước Mỹ), tôi đã định đi ngủ, vì hôm sau có giờ giảng bài sớm. Bỗng cả đại học vỡ oà, sinh viên reo nổ trời trong niềm hân hoan tột độ. Tôi hiểu rằng Barak Obama đã trúng cử. Nền dân chủ của Mỹ tiến bộ nhanh và tử tế hơn tôi tưởng.

Hôm nay, sau gần 8 năm với 2 nhiệm kỳ tổng thống, ông đến Việt Nam để nâng quan hệ hai nước lên một tầm cao mới. Tôi đang vừa viết bài này vừa nghe tổng thống Obama phát biểu, được truyền hình trực tiếp từ Trung tâm Hội nghị quốc gia. Ông nói thật chân thành, sao tôi thấy rưng rưng. Ít khi tôi được nghe tiếng của một con người, không phải là robot.

Nước Việt Nam đang bị tên láng giềng nham hiểm phương bắc đe doạ. Nếu thế hệ này người Việt để mất nước, thì đó đâu phải là vì chúng ta không có những người bạn tử tế, mà bởi vì chúng ta đã không đủ thành tâm tử tế với bạn bè.

Ông bạn già của tôi đưa ra sáng kiến: Giá như nhà nước tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân về sự tin cậy đối với 2 người (1) Tập Cận Bình và (2) Barak Obama thì sao nhỉ? Ông nhà báo về hưu ở đầu ngõ bảo: “Theo kinh nghiệm của tôi, kết quả cuộc bình chọn sẽ được công bố thế này: “Đồng chí Tập Cận Bình đứng thứ nhì, còn Tổng thống Obama đứng ngay trước bét””.

(NGUYEN HUNG)

CÁCH ĐÂY 200 NĂM, BẬC TIỀN NHÂN LẬP QUỐC THOMAS JEFFERSON CỦA NƯỚC MỸ TÌM ĐẾN GẠO VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

Theo bài viết trên báo Dân Việt, cách đây 200 năm, người Mỹ đã quan tâm đến hạt gạo Việt.

Theo nhiều tài liệu hiện còn lưu trữ tại Mỹ, vào tháng 7.1787, Thomas Jefferson, khi ấy đang là đại diện của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Pháp đã viết thư về nước bày tỏ sự quan tâm đặc biệt tới thông tin về tình hình nông nghiệp ở vùng đất phía nam Việt Nam.

Ông Thomas Jefferson đã liên hệ với con trai của Nguyễn Ánh là Hoàng tử Cảnh, khi ấy đang có mặt ở Pháp, mang đến cho ông ta một số hạt giống lúa của Việt Nam. Đây có thể là thông tin sớm nhất về sự quan tâm của người Mỹ tới Việt Nam.

Năm 1801, Thomas Jefferson trở thành Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ. Không hiểu có liên quan gì tới sự quan tâm trước đây của vị tân tổng thống đối với vùng đất phía nam của Việt Nam mà ngay năm sau thương thuyền Frame do thuyền trưởng Jeremiah Brigg chỉ huy đã được phái sang Việt Nam để thu thập tin tức về hạt lúa Việt và tìm hiểu về nguồn cung ứng đường và cà phê cho thị trường Mỹ.

Tàu Frame đến cảng Đà Nẵng ngày 21.5.1803. Tại đây thuyền trưởng Brigg đã gặp 2 chiến hạm của Hải quân triều Nguyễn do người Pháp chỉ huy. Họ khuyên Brigg nên đến Huế để yết kiến Vua Gia Long, nhưng tại đây viên thuyền trưởng Mỹ chỉ được gặp người đại diện của triều Nguyễn và một số cha cố, sĩ quan Hải quân Pháp đang phục vụ Vua Gia Long. 

Sau khi thu thập được một số thông tin, tàu Frame rời Việt Nam đi Manila vào ngày 10.6.1803. Đây là chiếc tàu Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.

Phải mất 16 năm sau mới có chiếc tàu Mỹ thứ hai đến Việt Nam cũng với mục đích tìm nguồn cung ứng nông sản. Đó là tàu Franklin do thuyền trưởng John White chỉ huy. Ngày 2.1.1819, tàu Franlin cập cảng Vũng Tàu. J. White đã có cuộc tiếp xúc với quan chức địa phương và được hứa là sẽ cấp giấy phép cho vào Sài Gòn. Nhưng chờ mãi không thấy có hồi âm.

Một quan chức địa phương nói rằng phải có giấy phép của triều đình thì tàu ngoại quốc mới được phép vào Sài Gòn. J. White quyết định đến Huế để trực tiếp yết kiến hoàng đế. Nhưng tiếc thay khi ấy Hoàng đế Gia Long đang tuần du ở Bắc Hà nên dự định của J. White không thực hiện được. Viên thuyền trưởng quyết định đưa thuyền đến Manila, hy vọng ở đây sẽ tìm ra được người có thể phiên dịch tiếng Việt rồi sẽ quay trở lại Việt Nam.

Sau khi tàu Franklin rời Việt Nam còn có 3 tàu buôn khác của Mỹ là Marmion, Aurora và Beverli ghé cảng Vũng Tàu và Đà Nẵng với cùng mục đích nhưng tất cả đều thất bại.

Cho đến nay, lúa gạo Việt Nam vẫn chưa lọt vào danh sách những mặt hàng được xuất khẩu và ưa chuộng tại Mỹ.

Tháng 11.2000, trong lần thăm Việt Nam khi đang là Tổng thống Mỹ, ông Bill Clinton đã nhắc lại câu chuyện hạt gạo này. Trong bài nói chuyện với sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội được truyền hình trực tiếp trên VTV1, Tổng thống Mỹ B. Clinton nhắc lại: “Hai thế kỷ trước, trong những ngày đầu của Hợp chủng quốc, chúng tôi đã vươn qua biển cả để tìm bạn hàng và Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên chúng tôi gặp. Một trong những bậc cha anh lập quốc của chúng tôi - Thomas Jefferson, đã tìm cách nhập gạo giống từ Việt Nam để trồng tại trang trại của ông ta ở Virginia 200 năm trước”.

Rõ ràng, nội dung phát biểu của B.Clinton, và gần nhất là của Tổng thống Obama rất có lợi cho việc quảng bá lúa gạo Việt Nam, nó tạo ra sự liên tưởng đầy thú vị và hấp dẫn về “con đường lúa gạo Việt Nam”.

Theo Hạ Anh (Dân Việt)

Sưu tầm